Tour Lagi 2 ngày 1 đêm - Công Ty Du Lịch Việt Du

khach san sammy tai vung tau

Đất của người tứ xứ

tour lagi ham tan

 

Đất và người có mối quan hệ với nhau như máu thịt. Tính khí con người và không gian thổ nhưỡng cũng không thể tách rời. Cho nên dù biệt xứ bao năm cũng chất nặng trong người hàng trăm lý do tồn tại, cụ thể ở vùng đất mới này.

 

Trong lịch sử mở đất lập làng ở vùng đất La Gi – Hàm Tân, cũng như nhiều nơi khác ở nam Trung bộ, đặc trưng tính quần cư của Bình Thuận kể từ thời kỳ suy yếu quyền lực Chiêm Thành đã mở ra một không gian mới cho dân Đàng Ngoài theo thuyền dọc bờ biển Đông dạt tìm đất sống. Những địa danh cửa sông lớn là dịch trạm, cạnh đó đặt đạo trị (đồn binh trấn thủ một đoạn đường-tg) tạo thành một tuyến đường xuyên suốt từ triều đình đến các địa phương cuối đất. Dọc dài bờ biền từ Bình Châu (Bà Rịa- Vũng Tàu) đến mũi Khe Gà khoảng 49 cây số có các dịch trạm Thuận Biên (Xuyên Mộc), Thuận Phương (Thắng Hải), Thuận Phước (Phước Lộc), Thuận Trình (Tam Tân), Thuận Lâm (Thạnh Mỹ) rồi nối với Thuận Lý (Phan Thiết), Thuận Phiên (Phú Hài)….Dân cư quần tụ ban đầu cũng từ các nơi này theo thời gian phát triển dần lên miệt rừng, khai hoang giở ruộng. Theo địa bạ triều Nguyễn (1805 -1836), năm 1836 tiến hành đạc điền Bình Thuận, lúc ấy còn là huyện Tuy Định, La Gi –Hàm Tân nằm trong phần đất tổng Đức Thắng và trong 31 địa danh làng có liên quan, đó là các thôn Phong Điền, Tân Hải, Văn Kê, Phước Thắng; các phường Phước Lộc, Tân Nguyên, Tân Quý. Thuộc tổng nông tang thì có thôn Hiệp Nghĩa, Phù Trì. Nếu dân số tổng Đức Thắng (phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận) năm 1910 có 18.820 cư dân thì làng La Gi –Hàm Tân lúc đó chỉ tính theo nhóm dân, chi họ rất còn thưa thớt đối với một vùng đất biển rừng phong phú

.

Không đâu xa, dân làng Tam Tân, Phước Lộc, Cù Mi …không hẳn là dân bản địa mà nguồn gốc giòng tộc xa xưa từ đất Quảng Nam, Quảng Ngãi. Theo chân lớp lưu dân đi mở đất, những nhà truyền giáo Ki-tô cũng đến Tân Lý (1885), Hàm Thắng (1887) lập nhà thờ. Năm 1867 -1885, Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ và tấn công vùng Giao Loan (Biên Hòa) thì có một số nhà nho cựu quan, nghĩa quân mang cả gia đình, theo đường biển ra vùng đất phía nam Bình Thuận lánh nạn. Trong kháng chiến chống Pháp, La Gi- Hàm Tân là vùng căn cứ kháng chiến đã đón nhận nhiều nhóm dân tản cư chạy giặc về đây. Các địa danh Hồ Tôm, Suối Dứa, Bàu Ong, Thị Ngọt, Bàu Dòi, Bưng Sình …có bàn tay phá rẫy, làm nương của người dân đến từ Hàm Thuận, Phan Thiết, Xuyên Mộc…Sau khi hòa bình lập lại, đến năm 1957, Hàm Tân – La Gi là địa bàn trung tâm tỉnh lỵ Bình Tuy, có đợt nhập cư đông đến 6 ngàn người Miền Bắc di cư vào Nam, gốc quê Nghệ An hình thành các xứ đạo Công giáo Vinh Tân, Vinh Thanh, Tân Xuân, Tân Lập, Tân Tạo, Phước An, Hiệp An…Rồi sau đó dân số La Gi –Hàm Tân lại tăng lên bởi các đợt nhập cư gần 5 ngàn người Việt kiều Campuchia bị Lon- Non cáp duồng năm 1970, tiếp tới năm 1972 -1973 khoảng một vạn dân từ Quảng Trị, Quảng Ngãi bị dồn dân lập thành khu định cư Bình An, Phước Bình, Đông Hà, Bình Ngãi, Phúc Âm, Gio Linh, Cam Lộ…

.

Đất và người có mối quan hệ với nhau như máu thịt. Tính khí con người và không gian thổ nhưỡng cũng không thể tách rời. Cho nên dù biệt xứ bao năm cũng chất nặng trong người hàng trăm lý do tồn tại, cụ thể ở vùng đất mới này. Người xứ Nghệ đã đi đi tận cùng chọn lựa; dân Quảng Trị lấy cái học trốn bỏ đói nghèo; người Quảng Nam, Quảng Ngãi thì đủ bước cương nhu; dân Bình Định biết tranh thủ thích nghi…Chính từ những phẩm chất đó mới đích thực La Gi –Hàm Tân là đất tụ nghĩa và mặn nồng.

 

 

PV